Phát huy tinh thần quật khởi của Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

Cập nhật: Thứ sáu , 16/12/2016 09:05

Kỷ niệm 70 năm ngày Toàn quốc kháng chiến là dịp để ôn lại, phát huy tinh thần quật cường chống giặc ngoại xâm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây cũng là dịp chúng ta suy ngẫm, ôn lại những bài học lịch sử sâu sắc, vận dụng vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước hôm nay.


Bút tích "Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ đây, chính quyền cách mạng về tay nhân dân, nhân dân lao động đã trở thành người làm chủ vận mệnh dân tộc mình. Chính quyền non trẻ mới ra đời phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thử thách, tình thế cách mạng mong manh, phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài, cùng lúc “giặc đói”, “giặc dốt” đang diễn ra, làm cho đất nước đang khó khăn lại càng khó khăn hơn. 

Trong bối cảnh đó, xuất phát từ nguyện vọng chính đáng của nhân dân ta là đất nước được hoà bình, ổn định để tập trung tài lực vào xây dựng cuộc sống mới; từ việc đánh giá âm mưu của các thế lực đế quốc và căn cứ vào tương quan so sánh lực lượng lúc đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định chủ trương lãnh đạo cách mạng đúng đắn, vừa kiên quyết đấu tranh để giữ vững nền độc lập, thống nhất quốc gia, vừa nhân nhượng, hòa hoãn với kẻ thù để tránh cùng một lúc phải đương đầu với nhiều thế lực ở hai miền đất nước; đồng thời, tranh thủ thời gian, khắc phục khó khăn, xây dựng thực lực cách mạng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài.

Ngày 23/9/1945, thực dân Pháp núp bóng quân Anh vào giải giáp quân Nhật đầu hàng, đã nổ súng đánh ta ở Nam Bộ và ngày này đã đi vào lịch sử - “Ngày Nam Bộ kháng chiến”.  Chủ tịch Hồ Chí Minh, một mặt kêu gọi nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ đứng lên kháng chiến, mặt khác ra sức đàm phán với chính phủ Pháp để cứu vãn hoà bình, thực hiện sách lược “hoà để tiến”. Lúc đầu, chúng ta thực hiện sách lược “Hoa - Việt thân thiện”, hoà hoãn với Tưởng và có những nhân nhượng với bọn tay sai Việt Quốc, Việt Cách để tránh một cuộc xung đột quân sự lớn ở miền Bắc, tập trung đấu tranh chống thực dân Pháp ở miền Nam. Sau khi Tưởng và Pháp thỏa hiệp tại Trùng Khánh tháng 2/1946, Chính phủ ta hoà hoãn với thực dân Pháp bằng Hiệp định sơ bộ ngày 06/3/1946, sau đó cuộc đàm phán tại Hội nghị trù bị Đà Lạt và Hội nghị chính thức ở Phôngtenblô, ký Tạm ước 14/9/1946 để đuổi quân Trung Hoa dân quốc về nước và cố gắng giải quyết cuộc xung đột Pháp - Việt bằng biện pháp hoà bình, chí ít cũng trì hoãn cuộc chiến tranh để ta có thêm thời gian chuẩn bị lực lượng cho toàn quốc kháng chiến. 

Sau khi thấy con bài “ngoại giao pháo hạm”, dùng thủ đoạn đàm phán trên thế mạnh không khuất phục được Chính phủ và nhân dân Việt Nam, giới cầm quyền hiếu chiến Pháp đã quyết tâm dùng vũ lực, nhằm cướp nước ta một lần nữa. Ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, chúng liên tiếp vi phạm các điều khoản đã được ký kết tại Hiệp định sơ bộ, thực hành tiến công và tàn sát nhân dân ta hết sức dã man. Ngày 18/12/1946, Pháp đã chuyển cho Chính phủ ta bức tối hậu thư: đòi ta phá bỏ những vật chướng ngại trên đường phố để quân Pháp tự do đi lại; trao cho chúng quyền giữ trật tự trị an ở Hà Nội; để quân Pháp đến chiếm đóng nhiều vị trí quan trọng trong Thành phố… Pháp tuyên bố nếu các yêu cầu trên không được Chính phủ Việt Nam chấp nhận thì chậm nhất vào sáng 20/12/1946 quân Pháp sẽ hành động. 

Hồ Chủ tịch và nhân dân Việt Nam hiểu rõ và luôn trân trọng giá trị của độc lập, tự do sau 87 năm bị thực dân Pháp và phát xít Nhật đô hộ. Một số hiệp ước hòa hoãn của Đảng và Chính phủ Việt Nam đã tỏ rõ thiện chí hòa bình, cố gắng nhân nhượng đến mức có thể, nhằm đẩy lùi chiến tranh. Nhưng dã tâm xâm lược và các hành động gây hấn của thực dân Pháp đã buộc chúng ta không thể nhân nhượng được nữa. Vì nhân nhượng lúc này sẽ dẫn đến họa mất nước, nhân dân Việt Nam sẽ trở lại cuộc sống nô lệ. Tình thế lịch sử buộc toàn dân ta phải cầm vũ khí đứng lên kháng chiến, bảo vệ độc lập, chủ quyền đất nước. 

Trước tình hình đó, Đảng ta khẳng định: Sự thật đã chứng minh rằng, thực dân Pháp ngang nhiên khiêu hấn. Chúng định dùng vũ lực bắt ta phải nhượng bộ, nhưng không khi nào ta chịu. Tạm ước 14/9/1946 là một bước nhân nhượng cuối cùng. Nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của đất nước, là hại quyền lợi cao trọng của dân tộc.

Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã họp (ngày 18/12/1946) tại làng Vạn Phúc (nay thuộc phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội), dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hội nghị nhận định khả năng hoà hoãn đã hết và quyết định phát động toàn quốc kháng chiến. Mặc dù Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách ngăn chặn chiến tranh, nhưng “cây muốn lặng, gió chẳng dừng”, đối phương chủ trương gây chiến, không còn con đường nào khác, Người buộc phải dùng chiến tranh chính nghĩa chống lại chiến tranh phi nghĩa. Đêm 19/12/1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ và ngay trong đêm đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”, hiệu triệu đồng bào và các lực lượng vũ trang cả nước nhất tề đứng lên đánh quân xâm lược, giữ gìn đất nước.

“Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến đã thể hiện ý chí, tinh thần chống xâm lăng của toàn dân tộc Việt Nam. Dù tương quan so sánh nghiêng hẳn về phía Pháp, nhưng với niềm tin mãnh liệt vào nhân dân, vào sức mạnh quật cường của dân tộc, thay mặt cho quốc dân, đồng bào, Người kêu gọi các giới đồng bào cả nước bằng vũ khí và mọi loại dụng cụ có thể dùng làm vũ khí, nhất tề đứng lên đánh giặc: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Mục đích cuộc kháng chiến là “Việt Nam độc lập và thống nhất…”. Kết thúc Lời kêu gọi, Người truyền niềm tin thắng lợi cho toàn dân, toàn quân ta: “Thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”, “Kháng chiến thắng lợi muôn năm!”.

Với tinh thần quật khởi, quân dân Thủ đô mở đầu toàn quốc kháng chiến bằng những thắng lợi quan trọng, giam chân địch trong hai tháng, để cả nước chuyển vào điều kiện kháng chiến trường kỳ. Việc nổ súng phát động toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 giữa Thủ đô là một trường hợp hiếm thấy trong lịch sử, thể hiện một nghệ thuật quân sự khởi đầu cuộc chiến tranh cách mạng nhân dân đúng nghĩa, quả cảm và sáng tạo. Cùng với Hà Nội, quân dân cả nước vùng lên chiến đấu, các mặt trận: Nam Định, Huế, Đà Nẵng… giành được nhiều chiến công, đẩy quân địch lâm vào thế lung túng, bị động. Tinh thần quật cường của dân tộc được khơi dậy, cả nước tiến công, toàn dân là chiến sĩ đã tạo nên thế trận rộng khắp. Đó chính là sức mạnh bảo đảm để quân dân ta giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp như khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”. Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu năm 1954 đã chứng tỏ sức mạnh phi thường của lòng yêu nước của quân và dân ta, sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Bác Hồ. Cả dân tộc gian khổ chiến đấu và hy sinh giành lại một nửa Việt Nam hoà bình, làm tiền đề cho một Việt Nam độc lập và thống nhất. Tiếp đến 21 năm sau trường kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, năm 1975, đội quân bách chiến bách thắng của Bác Hồ đã cắm lá cờ Tổ quốc lên nóc Dinh Độc Lập, kết thúc cuộc chiến tranh mười nghìn ngày, đem lại hoà bình - độc lập - tự do cho dân tộc, thống nhất đất nước, Bắc - Nam sum họp một nhà.

Trong lịch sử dân tộc ta, Nguyễn Trãi đã từng nói: Đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân. Trong quá trình lãnh đạo kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao và nhắc nhở vai trò của quần chúng: Dựa vào dân, có dân là có tất cả. Tư tưởng chiến tranh toàn dân đã được Người nêu lên năm 1944 trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Khi đó Người nói, cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, phải động viên toàn dân và vũ trang toàn dân. Không phải ngẫu nhiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu Lời kêu gọi bằng năm từ “Hỡi đồng bào toàn quốc!”. Đây chính là biểu hiện sâu sắc quan điểm lấy dân làm gốc, là tư tưởng chiến tranh nhân dân trong sự nghiệp chống quân xâm lược giải phóng đất nước. Trong giờ phút Tổ quốc lâm nguy, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến thiêng liêng của Người là lời hịch của non sông, cổ vũ tinh thần yêu nước quật khởi của toàn dân tộc đứng lên chống lại quân xâm lược. Tinh thần quật khởi quyết chiến, quyết thắng của ngày Toàn quốc kháng chiến được kế tục và phát huy trong suốt 30 năm cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đánh bại hai đế quốc xâm lược to lớn, giành lại độc lập, thống nhất hoàn toàn cho Tổ quốc.

Ngày nay, những thành tựu, kinh nghiệm 30 năm đổi mới đã tạo ra thế và lực mới, đất nước đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, nước ta vẫn là nước đang phát triển, khoảng cách tụt hậu về kinh tế, khoa học và công nghệ vẫn còn cách xa so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới. Mấy năm gần đây, suy thoái kinh tế toàn cầu, khủng hoảng tài chính thế giới tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp đổi mới của nước ta. Cuộc chiến chống nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng đất nước vừa anh hùng, vừa giàu mạnh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn là nhiệm vụ hết sức nặng nề, thách thức hết sức to lớn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải nỗ lực vượt bậc với tinh thần quật khởi mới.

Tinh thần yêu nước, đấu tranh quật cường chống ngoại xâm của dân tộc, trước đây “không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, ngày nay cần được hun đúc trong công cuộc chống nghèo nàn lạc hậu, tinh thần không chịu thua kém bạn bè trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học và công nghệ. Đó phải là những hành động cụ thể thể hiện trong lao động hàng ngày, thể hiện ở nghị lực vượt mọi khó khăn, ở quyết tâm thực hiện và làm tròn chức trách, nghĩa vụ của các tầng lớp cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, tinh thần hăng say suy nghĩ kiến tạo và cống hiến của mọi người dân Việt Nam.

Kỷ niệm 70 năm ngày Toàn quốc kháng chiến là dịp để ôn lại, phát huy tinh thần quật cường chống giặc ngoại xâm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc của toàn dân và toàn quân ta. 

Đây cũng là dịp chúng ta suy ngẫm, ôn lại những bài học lịch sử sâu sắc, vận dụng vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước hôm nay, truyền tinh thần quật khởi không cam chịu tụt hậu, đói nghèo thấm sâu vào đời sống xã hội. Các cấp, các ngành, các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhân dân đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, tư duy công tác, lao động, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; cụ thể hóa Nghị quyết thành các chương trình hành động thiết thực. Kiên quyết thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược để phát triển kinh tế - xã hội, trong đó, trọng tâm là quyết liệt cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của toàn hệ thống chính trị, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, tạo nguồn lực xây dựng và phát triển các mặt trận văn hóa, quốc phòng - an ninh, đối ngoại…

Theo ĐCSVN

Tags:

Hiện chưa có bình luận nào, hãy để lại bình luận của bạn về tin tức này.

Nhập bình luận của bạn:

Để thuận tiện cho việc đăng tải, bạn vui lòng nhập các ý kiến phản hồi bằng tiếng Việt có dấu.

Gửi bình luận Nhập lại

Lịch Phát sóng

  • T2

    18/01

  • T3

    19/01

  • T4

    20/01

  • T5

    21/01

  • T6

    22/01

  • T7

    23/01

  • CN

    24/01

Xem toàn bộ

Thông tin cần biết

Thời tiết:

22°C - 36°C nhiều mây, không mưa

1 USD = The request was aborted: Could not create SSL/TLS secure channel. VNĐ

The underlying connection was closed: An unexpected error occurred on a send./lượng